Pháp luật các nước không coi quyền chiếm hữu là một phần của quyền sở hữu như trong luật Việt Nam
Khái niệm:: Sở hữu, Luật so sánh
Thứ hai, ngay trong định nghĩa về quyền sở hữu, các nhà làm luật Việt Nam công nhận chiếm hữu là một quyền nằm trong quyền sở hữu. Nhưng luật các nước trên thế giới lại không công nhận điều này. Quyền chiếm hữu là một quyền khác được quy định riêng và không nằm trong quyền sở hữu. Việc này dẫn đến hệ quả là quyền chiếm hữu không được pháp luật bảo vệ khi chưa thiết lập mối quan hệ với quyền sở hữu. Được coi là một phần của quyền sở hữu, quyền chiếm hữu không được bảo vệ theo một chế độ riêng mà được nhập chung với quyền sở hữu, thành đối tượng chung của một chế độ bảo vệ duy nhất, gọi là bảo vệ quyền sở hữu, được quy định tại Chương XV Bộ luật Dân sự năm 2015. Chế độ này được đặc trưng bởi hai quyền cơ bản - Quyền đòi lại tài sản (Điều 256) và quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp (Điều 259)(16). Điều này dẫn tới khi quyền chiếm hữu của mình bị xâm phạm thì có hai trường hợp sẽ xảy ra.
Một là, có người khác chứng minh được một cách thuyết phục trước cơ quan chức năng rằng mình là người có quyền đối với tài sản, trong trường hợp này, tài sản phải được giao cho người đó.
Hai là, không có ai khác chứng được rằng mình là người có quyền đối với tài sản, trong trường hợp này, cách xử lý duy nhất phù hợp với logic của sự việc là coi tài sản như của vô chủ và nhập vào khối công sản của Nhà nước. Không thể bảo vệ được quyền chiếm hữu là một thiếu sót trong pháp luật Việt Nam, vậy nên trong tương lai nhà nước cần phải điều chỉnh luật pháp sao cho phù hợp.
Trích từ:: Căn cứ xác lập quyền sở hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015
Phương Tây không còn dùng mô hình quyền sở hữu gồm 3 quyền nhỏ, ít nhất là từ thời Napoleon